Người ta chỉ điều trị trĩ khi trĩ gây
những rối loạn ảnh hưởng đến sinh hoạt và năng suất lao động của người bệnh.
Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát
sinh bệnh trĩ:
- Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng
ngày.
- Điều chỉnh thói quen ăn uống:
Tránh các chất kích thích như cà
phê, rượu, trà.
Tránh các thức ăn nhiều gia vị như
ớt, tiêu.
Uống nước đầy đủ.
Ăn nhiều chất xơ.
-Vận động thể lực: nên tập thể dục
và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ…
-Điều trị các bệnh mãn tính hiện có
như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ …
Điều trị nội khoa:
- Thuốc uống: gồm các thuốc có tác
nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của các thuốc này là
làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác
động kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch.
- Thuốc tại
chỗ: gồm các loại thuốc mỡ (pommade) và đạn dược (suppositoire) bao gồm các tác
nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch.
Điều trị bằng thủ thuật:
1-Chích xơ:
Là
phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn. Tuy nhiên, người
thực hiện thủ thuật phải là bác sĩ có kinh nghiệm với kỹ thuật vững vàng
mới cho kết quả tốt và tránh được các biến chứng. Mục đích chính của chích xơ
là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới
niêm mạc giúp giảm triệu chứng chảy máu.
Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ
1 và trĩ độ 2,
Trong kỹ thuật chích xơ cần chú ý
một số việc:
- Sử dụng đúng loại kim: Kim dài, có
ngạnh chặn ở gần đầu kim để tránh xuyên thấu sâu, nếu có kim gập góc thì rất
tốt, ống chích chuyên dùng. Thuốc chích xơ thường dùng hiện nay là dầu phenol 26
và polidocanol.
-Vị trí chích là ở gốc búi trĩ, nằm
trên đường lược và ở đáy búi trĩ. Khối lượng thuốc bơm khoảng 3-5 ml, bom
chậm, trong lúc bom thuốc nếu thấy chỗ chích đổi màu trắng là chích vào
lớp thượng bì, ngừng chích ngay vì sẽ gây biến chứng loét hoại tử sau chích. Vị
trí chích thông thường là ở 4giờ , 7giờ và 11giờ.
Biến chứng:
*Chảy máu chỗ chích: nếu phát hiện
trong lúc chích dùng gạc đè vào, nếu không giảm dùng dụng cụ thắt trĩ bằng vòng
cao su thắt vùng chảy máu.
*Chích vào tuyến tiền liệt: trong
trường hợp chích quá sâu ở vị trí 11giờ-1giờ có thể gặp biến chứng bí tiểu,
viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, rò hậu môn âm đạo…
2-Thắt trĩ bằng vòng cao su:
Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ
định điều trị trĩ nội độ 1 và 2, một số tác giả áp dụng cho cả trĩ nội độ 3 nhưng
kết quả giới hạn.
Thắt trĩ bằng vòng cao su đã
được thực hiện từ thế kỷ 19 nhưng vì cột búi trĩ chung với cả da quanh hậu môn
nên sau thắt rất đau, cho nên không được sử dụng rộng rải. Đến năm 1958
Blaisdell đã thành công với việc chỉ cột búi trĩ không có lẫn da và các mô
chung quanh. Barron 1963 đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau
đó với dụng cụ cải tiến của Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ với vòng cao su
thành một phương pháp điều trị trĩ thành công và được lựa chọn hàng đầu trong các
phương pháp điều trị bằng thủ thuật.
Nguyên tắc chính của thắt vòng cao
su là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp
dưới niêm mạc, do đó sẽ cố định ống hậu môn đúng với nguyên tắc bảo tồn lớp đệm
hậu môn.
3-Quang đông hồng ngoại:
Phương thức sử dụng nhiệt
điều trị trĩ đã được thực hiện hàng trăm năm nay. Mục tiêu của phương pháp làm
đông là làm cho mô bị đông lại bởi tác động của sức nóng, tạo nên sẹo xơ làm
giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định trĩ vào ống hậu môn. Với tia Laser,
dòng điện cao tần cũng có tác động làm đông như tia hồng ngoại, nhưng sự chính
xác về độ sâu xuyên thấu của tác động làm đông của 2 phương pháp này không
chính xác bằng tia hồng ngoại với máy quang đông. Sự xuyên thấu mô của tia hồng
ngoại được định trước bằng cách điều chỉnh tốc độ của tia và độ hội tụ chính
xác trên lớp mô này. Máy quang đông hồng ngoại có lợi là không gây nhiễu các
dụng cụ điện tử gắn trên người bệnh như máy điều hòa nhịp tim.
Quang đông hồng ngoại được chỉ định
với trĩ nội độ 1 và độ 2. Phương pháp này có ưu điểm là không đau, an toàn, cầm
máu rất hiệu quả nhưng có nhược điểm là máy khá đắt và thường phải làm thủ
thuật nhiều lần.
PHẪU THUẬT
Với các phát hiện về sinh bệnh học
và giải phẫu học, từ thập niên 90 có các phương pháp phẫu thuật mới như khâu
treo trĩ, phẫu thuật Longo, khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm
Doppler. Các phương pháp phẫu thuật mới này dựa trên nguyên tắc bảo tồn lớp đệm
hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định mô trĩ vào ống hậu môn. Với
các phương pháp phẫu thuật sau này, vùng phẫu thuật nằm trên cột Morgagni, là
vùng không có các tiếp nhận cảm giác, do đó khi phẫu thuật vùng này có lợi điểm
là không đau.
-Nhóm phẫu thuật 1: gồm 2 nhóm phẫu
thuật
a-Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc:
Phẫu thuật Whitehead: nguyên tắc là
cắt khoanh niêm mạc và lớp dưới niêm mạc có các búi tĩnh mạch trĩ, sau đó
kéo niêm mạc từ trên xuống khâu với da ở hậu môn. Phương pháp này hiện nay hầu như không
được sử dụng vì để lại nhiều biến chứng nặng nề như hẹp hậu môn, đại tiện mất tự
chủ và rỉ dịch ở hậu môn. Nhưng vì tính chất triệt để của phẫu thuật nên nhiều
tác giả vẫn sử dụng nguyên tắc của phẫu thuật này nhưng cải biên lại để làm
giảm các biến chứng, ví dụ phẫu thuật Toupet.
b-Phẫu thuật cắt từng búi trĩ:
Nguyên tắc phẫu thuật này là cắt
riêng biệt từng búi trĩ một, để lại ở giữa các búi trĩ các mảnh da-niêm mạc
(cầu da niêm mạc). Nhóm phẫu thuật này gồm có PT Milligan Morgan (1937),
PT Ferguson (1959), PT Parks (1965), PT BV Việt Đức (Nguyễn Đình Hối, 1966).
Nhóm phẫu thuật này gồm2 nhóm
chính là:
-
Cắt trĩ mở: PT Milligan Morgan , PT Nguyễn Đình Hối
-
Cắt trĩ kín: PT Ferguson.
Nhóm phẫu thuật này tránh được các
biến chứng của nhóm phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc da, nhưng vẫn còn nhược điểm
là đau sau mổ, thời gian nằm viện dài, thời gian trở lại lao động muộn và không
hiệu quả trong các trường hợp trĩ vòng.
2-Nhóm phẫu thuật 2:
Xuất phát từ các nhược điểm của nhóm
phẫu thuật dưới cột Morgagni và các phát hiện mới về sinh bệnh học, từ thập
niên 90, dựa trên nguyên tắc bảo tồn khối đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến
búi trĩ và thu nhỏ thể tích khối trĩ, một số phẫu thuật mới đã ra đời với
nguyên tắc treo hậu môn nhưPT Longo, khâu treo trĩ bằng tay và nguyên tắc thu
nhỏ thể tích khối trĩ nhưPT khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm
Doppler.
a-PT Longo (1993) (hình 1):
Là phẫu thuật sử dụng máy khâu vòng
để cắt một khoanh niêm mạc trên đường lược 2-3 cm và khâu vòng bằng máy bấm. Nguyên
tắc của phẫu thuật này là cắt và khâu khoanh niêm mạc, nhằm mục đích giảm lưu
lượng máu đến đám rối tĩnh mạch trĩ để thu nhỏ thể tích trĩ và treo được đệm
hậu môn vào ống hậu môn. Phương pháp này được ưa chuộng vì không đau, thời gian
nằm viện ngắn, trả bệnh nhân về lao động sớm, nhược điểm này là chi phí cao,
chưa được đánh giá đầy đủ về hiệu quả do thời gian theo dõi còn ngắn 15.
Hình 1: Phẫu thuật Longo
b-Khâu treo trĩ bằng tay:
Đây là phương pháp cải biên của phẫu
thuật Longo ở các nước đang phát triển do giá thành cao của PT Longo . PT này
đã được Ahmed M Hussein, Nguyễn Mạnh Nhâm, Nguyễn Trung Vinh, Nguyễn Trung Tín
báo cáo ở các hội nghị. Phương pháp này cũng dựa trên nguyên tắc của phẫu thuật
Longo là làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ để thu nhỏ thể tích khối trĩ và
treo búi trĩ lên ống hậu môn bằng các mũi khâu tay khâu xếp nếp niêm mạc
trên đường lược 2-3 cm. Phương pháp này chỉ mới được báo cáo sau năm 2001.
c-Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng
dẫn của siêu âm Doppler :
Phương pháp này được Kazumasa
Morinaga thực hiện lần đầu năm 1995, với một dụng cụ có tên là Moricorn,
là một máy gồm một đầu dò siêu âm Doppler gắn liền trong một ống soi hậu môn,
qua dụng cụ này tác giả dò tìm 6 động mạch, là những nhánh tận của động mạch
trực tràng trên, và các nhánh động mạch này được khâu cột ở vị trí trên đường
lược 2cm.
Nguyên tắc của phương pháp này là
làm giảm lưu lượng máu đến các búi trĩ, chỉ áp dụng cho trĩ nội độ 2 và 3, ưu
điểm của phương pháp này là không đau và bảo tồn được đệm hậu môn.
Cả ba phương pháp này không giải
quyết được các trường hợp trĩ nội tắc mạch và các trường hợp có mẫu da thừa
lớn.
Chỉ định điều trị:
-Trĩ có thể là bệnh, có thể là triệu
chứng của một bệnh khác. Chỉ được phẫu thuật khi là trĩ bệnh . Một sai lầm
thường mắc phải là cắt trĩ cho một bệnh nhân bị ung thư trực tràng. Có thể trĩ
là triệu chứng của ung thư trực tràng, có thể là ung thư trực tràng xuất hiện
trên một bệnh nhân có trĩ đã lâu. Vì vậy, trước khi mổ phải khẳng định không có
các thương tổn thực thể khác ở vùng hậu môn trực tràng.
-Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội
khoa hay các phương pháp vật lý. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương
sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật
can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các
di chứng nặng nề khó sửa chữa.
-Chỉ định mổ áp dụng cho trĩ nội độ
3, độ 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng sa và trĩ xuất huyết trầm trọng.
-Trĩ ngoại:
Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị
thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch
tạo thành những cục máu đông nằm trong các búi trĩ. Phẫu thuật điều trị tắc
mạch trong cấp cứu là rạch lấy cục máu đông. Ngay sau mổ bệnh nhân cảm thấy dễ
chịu và hết đau ngay.
-Trĩ nội:
- Độ 1: chích xơ hoặc làm đông bằng
nhiệt.
- Độ 2: làm đông bằng nhiệt, thắt
bằng dây thun hay cắt trĩ.
- Độ 3: thắt bằng dây thun hay cắt
trĩ.
- Độ 4: cắt trĩ.
- Trĩ sa nghẹt: dùng thuốc điều trị
nội khoa và ngâm nước ấm cho đến khi búi trĩ hết phù nề, tại chỗ ổn định, sau
đó mới mổ cắt trĩ.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét